[LVH] Phân tích văn bản Lao xao của Duy Khán

1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

2. Dàn bài chi tiết

2.1. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Duy Khán (những nét tiêu biểu về con người, cuộc đời, đặc điểm sáng tác,…)

– Giới thiệu khái quát về văn bản “Lao xao” (xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, khái quát đặc điểm về nội dung và nghệ thuật,…)

2.2. Thân bài

a. Khung cảnh làng quê Việt Nam vào buổi sáng chớm hè

– Cả khu vườn đang náo nức, rộn rã, hứng khởi để đón chờ một mùa đang tới thật gần.

– Màu sắc:

+ Màu xanh tươi mới của “cây cối um tùm”

+ Màu trắng xóa đến nao lòng của những bông hoa lan

+ Màu vàng của hoa giẻ, hoa móng rồng và của ong bướm.

– Hương thơm: cả làng thơm”, mùi thơm ngào ngạt của các loài hoa

– Âm thanh:

+ Tiếng những chú ong đang “đánh lộn nhau”

+ Những chú bướm “bỏ chỗ lao xao”

+ Tiếng của lũ trẻ con trò chuyện

→ Bằng những câu văn ngắn, kết cấu đơn giản cùng biện pháp so sánh, nhân hóa đã đưa người đọc về với thế giới của làng quê với tất cả những gì tinh khôi, bình yên và đẹp đẽ nhất.

b. Câu chuyện độc đáo về thế giới các loài chim

– Loài chim hiền:

+ Chim bồ các với tiếng kêu đặc trưng “các…các…các…”

+ Bồ các, chim ri, sáo sậu, sáo đen, tu hú – chúng đều có quan hệ họ hàng với nhau cả.

+ Chúng đều có ích cho con người, mang đến niềm vui trong cuộc sống của con người – sáo sậu, sáo đen “hót mừng được mùa”, tu hú kêu để báo hiệu “mùa tu hú chín”

– Loài chim trung gian: Chim ngói, chim nhạn

– Loài chim ác: Tác giả đặc biệt chú ý tới cách bắt mồi và sự đấu tranh sinh tồn của chúng

+ Diều hâu bay cao và nhanh, chúng có khả năng đánh hơi rất tinh.

+ Quạ đen, quạ khoang thì “lia lia, láu láu” để bắt gà con hoặc ăn trộm trứng.

+ Chim cắt thì đúng như tên gọi của nó, lợi hại với “cánh nhọn như dao bầu chọc tiết lợn”

+ Tác giả dành tình cảm đặc biệt đối với chim chèo bẻo vì dẫu là loài chim ác song chèo bẻo đã thay đổi, chúng thường đi trừng trị loài chim ác.

→ Với cái nhìn độc đáo và tràn đầy cảm xúc, Duy Khán đã đưa đến cho người đọc một câu chuyện độc đáo, thú vị và phong phú về thế giới của những loài chim.

2.3. Kết bài

– Khái quát những nét đặc sắc về giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản “Lao xao” và nêu cảm nghĩ của bản thân.

3. Bài văn mẫu

Đề bài: Phân tích văn bản Lao xao của Duy Khán

Gợi ý làm bài

3.1. Bài văn mẫu số 1

Quê hương thanh bình cùng những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ luôn là mảnh đất màu mỡ đối với mỗi nhà văn nhà thơ, để rồi đã có thật nhiều tác phẩm độc đáo và đặc sắc. Một trong số những tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả đó chính là tập hồi kí tự truyện “Tuổi thơ im lặng” của tác giả Duy Khán. Tập hồi kí đã vẽ nên khung cảnh về cuộc sống làng quê yên bình, tuy nghèo khó, cơ cực nhưng giàu sức sống, mang trong mình bản sắc độc đáo. Và có thể nói văn bản “Lao xao” trích từ tập hồi kí đã giúp chúng ta cảm nhận được rõ nét bức tranh thiên nhiên làng quê gần gũi, muôn vàn sắc màu.

Trước hết, văn bản “Lao xao” đã mang đến một bức tranh về khung cảnh làng quê Việt Nam vào một buổi sáng chớm hè. Thời khắc chuyển mùa, bắt đầu một mùa mới luôn là thời điểm mà vạn vật đều có sự đổi thay, khoác lên mình những màu áo mới. Bức tranh thiên nhiên nơi làng quê Việt vào buổi sáng những ngày đầu hè đã được tác giả Duy Khán miêu tả thật chi tiết, cụ thể, sinh động và thật ấn tượng. Dường như, cả khu vườn đang náo nức, rộn rã, hứng khởi để đón chờ một mùa đang tới thật gần với tất cả những gì nó có, từ màu sắc, âm thanh cho đến hương thơm. Đó là gam màu xanh tươi mới của “cây cối um tùm”, màu trắng xóa đến nao lòng của những bông hoa lan, màu vàng của hoa giẻ, hoa móng rồng và của ong bướm. Đó còn là hương thơm, “cả làng thơm”, mùi thơm ngào ngạt của các loài hoa. Và không dừng lại ở đó, khu vườn còn ngập tràn âm thanh của tiếng những chú ong đang “đánh lộn nhau”, những chú bướm “bỏ chỗ lao xao” và tiếng của lũ trẻ con trò chuyện lao xao. Tất cả, tất cả những màu sắc, âm thanh và hương vị ấy đã tạo nên một khung cảnh rất riêng vào buổi sáng chớm hè. Tác giả Duy Khán bằng những câu văn ngắn, kết cấu đơn giản cùng biện pháp so sánh, nhân hóa đã đưa người đọc về với thế giới của làng quê với tất cả những gì tinh khôi, bình yên và đẹp đẽ nhất.

Không dừng lại ở việc miêu tả khung cảnh làng quê vào buổi sáng chớm hè, tác giả Duy Khán còn đưa người đọc đến với thế giới, đến với câu chuyện độc đáo và thú vị về các loài chim. Dưới cái nhìn độc đáo của tác giả, mỗi loài chim đều có một câu chuyện nhỏ, rất riêng và đầy thú vị. Trước hết đó chính là câu chuyện về nhóm chim hiền. Mở đầu đó chính là chim bồ các với tiếng kêu đặc trưng “các…các…các…”. Để rồi, chị Điệp cũng nhanh nhảu đọc bài đồng dao về các loại chim. Từ bài đồng dao thú vị ấy, tác giả có dịp giới thiệu rõ hơn về các loài. Bồ các, chim ri, sáo sậu, sáo đen, tu hú – chúng đều có quan hệ họ hàng với nhau cả. Chúng đều rất hiền và không làm hại bao giờ. Và hơn thế nữa, chúng đều có ích cho con người, mang đến niềm vui trong cuộc sống của con người – sáo sậu, sáo đen “hót mừng được mùa”, tu hú kêu để báo hiệu “mùa tu hú chín”.

Không dừng lại ở giống chim hiền, tác giả còn nhắc đến những loài chim trung gian như chim ngói, chim nhạn. Để rồi, từ đó, đi sâu khám phá thế giới của loài chim ác. Viết về loài chim ác, tác giả đặc biệt chú ý tới cách bắt mồi và sự đấu tranh sinh tồn của chúng, để rồi chúng ta nhận ra, mỗi loài lại có những đặc điểm riêng. Diều hâu bay cao và nhanh, chúng có khả năng đánh hơi rất tinh. Quạ đen, quạ khoang thì “lia lia, láu láu” để bắt gà con hoặc ăn trộm trứng. Chim cắt thì đúng như tên gọi của nó, lợi hại với “cánh nhọn như dao bầu chọc tiết lợn”, khi đánh nhau chúng xỉa bằng đôi cánh lợi hại này. Với tác giả, những loài chim này là chim ác bởi chúng hay ăn cắp, ăn trộm và giết hại đến các loài khác. Nhưng, có một loài chim ác mà tác giả lại giành cho nó tình cảm yêu quý, đó chính là chim chèo bẻo bởi lẽ dẫu là loài chim ác song chèo bẻo đã thay đổi, chúng thường đi trừng trị loài chim ác. Dưới cái nhìn của tác giả, chèo bẻo thật dũng cảm và đoàn kết – chèo bẻo “đánh diều hâu túi bụi”, “vây tứ phía đánh quạ” và đoàn kết cùng nhau để đánh lại cắt. Có thể thấy, với cái nhìn độc đáo và tràn đầy cảm xúc, Duy Khán đã đưa đến cho người đọc một câu chuyện độc đáo, thú vị và phong phú về thế giới của những loài chim.

Tóm lại, bằng những kí ức tuổi thơ và tình yêu, sự gắn bó với quê hương, tác giả Duy Khán qua văn bản “Lao xao” dã đưa đến cho người đọc những kí ức đẹp đẽ về khung cảnh làng quê Việt và giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thế giới các loài chim vốn phong phú, đa dạng và ngập tràn sắc màu.

3.2. Bài văn mẫu số 2

Bài Lao xao trích từ tác phẩm Tuổi thơ im lặng của Duy Khán, tác phẩm được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1987. Đoạn văn kể lại khoảng đời trong sáng của nhà văn ở làng quê, nhất là với những cánh chim trong ngày hè mới chớm.

Mở đầu bài văn là những câu miêu tả ngắn gọn về thời gian, khung cảnh. Thời gian thì “chớm hè”, mới bắt đầu mùa nắng. Không gian thì từ rộng đến hẹp, từ “cả làng” đến “góc vườn ông Tuyển”. Đặc trưng của khung cảnh là hoa lan, hoa giẻ, hoa móng rồng… tỏa hương. Tất nhiên không thiếu ong và bướm. Và có sự xuất hiện của “chúng tôi”, bọn trẻ, trong đó có nhà văn, chuyện trò “râm ran”. Một sáng sớm ngày hè thanh bình, trong sáng.

Nhưng sự xuất hiện của con người chỉ để tô điểm cho buổi sáng mùa hè, là cái cớ để tác giả miêu tả và kể chuyện về các loài chim. Ví dụ, khi nghe tiếng con bồ các kêu vang, chị Điệp nhanh nhảu đọc bài đồng dao:

“ Bồ các là bác chim ri.

Chim ri là dì sáo sậu.

Sáo sậu là cậu sáo đen.

Sáo đen là em tu hú.

Tu hú lại là chú bồ các, …”

Nhờ đó mà nhà văn đã miêu tả một loạt dòng họ của chim bồ các. Nếu bồ các “bao giờ cũng vừa bay vừa kêu như bị ai đuổi đánh” thì dòng họ của nó “đều hiền cả”. “Chúng đều mang vui đến cho giời đất”. Tác giả vừa miêu tả vừa kể cái tính hiền hậu của họ nhà chim này. Từ hình ảnh sáo sậu, sáo đen đậu trên lưng trâu hót mừng được mùa, con sáo đen “tọ tọe” tập nói ở nhà bác Vui cho đến con “tu hú đỗ ngọn cây tu hú mà kêu” đều là loại chim mang vui đên cho trời đất. Để miêu tả và kể chuyện quê mình, Duy Khán đã dùng tiếng địa phương như “giời, thống buổi, ngấp ngoái” (trời, xế buổi – quá nửa buổi, ngắc ngoài) khiến người đọc như được nghe một người vùng Bắc Ninh kể về làng mình. Cùng là một từ “tu hú” tên của loài chim cùng họ với bồ các nhưng cũng là tên của cây vải theo địa phương chỉ vì khi chim tu hú kêu là báo hiệu mùa trái vải chín. “Quả chín đỏ, đầy ụ như mâm xôi gấc”

Lướt qua đàn chim ngói, chim nhạn, nhà văn bắt đầu miêu tả các loài chim dữ mà trước hết là “con bìm bịp”. Nhà văn đã kể chuyện “về một ông sư dữ như hổ mang” để giải thích vì sao chim có tính dữ và tên ấy. Khoác bộ cánh màu nâu, suốt đêm ngày núp trong bụi rậm, và chí lên tiếng “bịp bịp” khi “thổng buổi”. Và “khi nó kêu thì một loạt chim ác, chim xấu mới ra mặt”. Vừa miêu tả chim bìm bịp câu văn vừa giữ vai trò chuyển tiếp trong việc miêu tả các loài “chim ác, chim xấu” khác. Tiếng kêu của nó như hiệu lệnh cho đồng bọn hành sự.

Ra mặt đầu tiên là con diều hâu “có cái mũi khoắm đánh hơi tinh lắm”. Ở vùng quê, “Đâu có xác chết. Đâu có gà con…” là thấy nó rồi! Tác giả bắt đầu kể lại trận “Ẩu đả dưới, gốc vối già” giữa diều hâu và gà mẹ mà tác giả đã nhìn tận mắt. Ấy là đoạn văn kể chuyện bằng cách miêu tả các chi tiết chọn lọc, gợi hình: “Con diều hâu lao như mũi tên xuống, gà mẹ xù cánh vừa kêu vừa mổ, vừa đạp diều hâu”. Trận này, diều hâu thắng, bắt được gà con mang đi thì “những mủi tên đen, mang hình đuôi cá từ đâu tới tấp bay đến. Ấy là những con chèo bẻo”, mệnh danh là “kẻ cắp”. Thế là một trận chiến nữa xảy ra trên không giữa diều hâu và đàn chèo bẻo. Ngôn ngữ miêu tả tự nhiên, có cả thành ngữ, gợi hình ảnh sinh động. Lần này thì diều hâu thua, phải chạy trốn. Chèo bẻo là kẻ chiến thắng, để lại hình ảnh đẹp làm thay đổi tình cảm của nhà văn “Từ đây, tôi lại quý chèo bẻo”, để rồi tác giả đưa ra nhận xét: “Thì ra, người có tội khi trở thành người tốt thì tốt lắm”. Chèo bẻo “trị kẻ ác” nên tấn công cả những tên “lia lia láu” như “quạ đen, quạ khoang” khi chúng rình vào chuồng lợn để bắt gà con hay trộm trứng. Con quạ bị đàn chèo bẻo tấn công chết đến rũ xương…

Người đời thường bảo vỏ quýt dày có móng tay nhọn, kẻ cắp gặp bà già. Có diều hâu, quạ thì có chèo bẻo, có chèo bẻo thì có chim cắt. Duy Khán kết hợp thật nhuần nhuyễn. văn miêu tả và văn kể chuyện trong đoạn văn này, hay nói đúng hơn là Duy Khán đã kể lại chuyện chim bồ câu nhà chú Chàng bị chim cắt xỉa chết và trận đánh kinh hoàng giữa chim cắt và chèo bẻo bằng lối văn miêu tả. Khi miêu tả, nhà văn chỉ chọn những chi tiết đặc biệt. Ví dụ, miêu tả chim cắt thì chỉ tả “cánh nhọn như dao bầu dục chọc tiết lợn”. Về đặc tính hoạt động thì “Chúng là loài quỷ den, vụt đến, vụt biến…”, và “Khi đánh nhau, chim cắt chỉ xỉa bằng cánh”. Những câu văn so sánh và đặc tả ấy cũng đủ để gây ấn tượng với người đọc về loài chim ác này. Trận chiến đấu kinh hoàng trên không được sự cổ vũ của đám trẻ con kết thúc bởi cái chết cưa con chim cắt, và kẻ chuyên trị chim ác là chèo bẻo đã chiến thắng. Kẻ phục thiện và làm điều thiện đã được đền đáp!

Với sự quan sát tinh tường, tài chọn lọc các chi tiết trong sự hiểu biết phong phú về các loài chim, tình cảm sâu đậm với quê hương, cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn tự sự và miêu tả, Duy Khán đã thành công với Lao xao trích từ tác phẩm Tuổi thơ im lặng. Người đọc càng có ấn tượng khi đọc những câu văn ngắn, nghệ thuật so sánh… khiến bức tranh quê vừa giàu sắc thái vừa sinh động mà nhà văn đã kể lại để càng yêu thương đất nước Việt Nam.

———-Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp———–



LamVanHay.Com

Leave a Message

Registration isn't required.