[LVH] Triết lý nhân sinh trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu

1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

2. Dàn bài chi tiết

a. Mở bài:

– Vội vàng của Xuân Diệu là bài thơ với những vần thơ nồng nàn tha thiết và ẩn đằng sau ấy là cả một hệ thống những triết lý nhân sinh sâu sắc về mùa xuân, về đời người, về tuổi trẻ, là đại diện cho một hồn thơ với tam quan sâu rộng và tinh tế.

b. Thân bài:

* Triết lý nhân sinh trong Vội vàng bắt nguồn từ bức tranh cuộc sống muôn màu muôn vẻ, là tổng hòa của hai yếu tố mùa xuân và tình yêu

– Bức tranh thiên nhiên mùa xuân kết hợp với yếu tố tình yêu đầy rực rỡ sáng tạo.

– Quan niệm về cái đẹp của Xuân Diệu đến từ những thứ rất đỗi thân thuộc xung quanh mỗi chúng ta, hạnh phúc thực sự phải tới từ chính cuộc sống thực tại, mà ở đó con người phải biết trân trọng, tìm kiếm và cảm nhận vẻ đẹp tiềm tàng trong mỗi một sự vật, sự việc xung quanh chúng ta.

=> Mùa xuân, tình yêu và con người có mối tương quan chặt chẽ.

* Triết lý nhân sinh về thời gian, mùa xuân và tuổi trẻ:

– Mùa xuân của thiên nhiên có sự tuần hoàn lặp lại, nhưng mùa xuân của con người chỉ có một lần duy nhất, qua rồi thì không lấy lại được. Quy luật bước đi tuyến tính của thời gian quá tàn nhẫn và lạnh lùng mà không một ai có thể ngăn cản được.

– Xuân Diệu luyến tiếc mùa xuân, luyến tiếc cuộc đời, lòng yêu sống, ham hưởng thụ những gì tốt đẹp nhất thôi thúc ông hướng đến triết lý mới mẻ: Hãy tận hưởng bằng tất cả tâm hồn và thể xác khi còn có thể!

c. Kết bài:

– Cảm nhận về hồn thơ Xuân Diệu và triết lý nhân sinh sâu sắc của ông.

3. Bài văn mẫu

Đề bài: Em hãy phân tích triết lý nhân sinh trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu.

GỢI Ý LÀM BÀI

3.1. Bài văn mẫu số 1

Xuân Diệu một trong ba đỉnh cao của phong trào Thơ Mới, ông được đánh giá là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Đạt được danh vị như vậy không chỉ bởi những vần thơ mới mẻ, cách luật so với thơ cũ, mà còn bởi những triết lí nhân sinh hết sức mới mẻ trong thơ ông. Vội vàng được trích từ tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, nhưng đã thể hiện những quan điểm triết lí nhân sinh mới mẻ, đúng đắn của chàng trai khi tuổi đời mới 22.

Triết lí nhân sinh là những quan niệm của tác giả về thế giới, con người và vạn vật. Mỗi người sẽ có những quan niệm nhân sinh khác nhau. Đối với Xuân Diệu trong bài thơ Vội vàng triết lí nhân sinh của ông chính là lối sống tận hưởng, tận hiến cho cuộc đời. Và nó được thể hiện đầy đủ, trọn vẹn từ đầu cho đến cuối tác phẩm bằng một giọng văn nhiệt huyết, sôi nổi, thẫm đẫm cảm xúc trữ tình.

Thời xưa, người ta quan niệm: thời gian là tuần hoàn, bất biến. Năm này qua đi rồi năm khác lại đến cũng như cuộc đời con người là một vòng tròn mà sự nằm xuống chỉ là sự bắt đầu cho một kiếp sống khác, tốt đẹp hơn. Đến Xuân Diệu, ông đã mang đến cho chúng ta một quan niệm sống hoàn toàn mới mẻ: thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất…”

Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong một năm, mùa mà khi mọi vật tốt tươi, đâm chồi nảy lộc, vươn lên đầy sức sống cũng như tuổi trẻ là tuổi đẹp nhất của đời người, tuổi của những khát khao sống và nhựa sống tràn trề. Với một tâm hồn luôn khát khao tận hưởng và giao cảm, Xuân Diệu nhìn thấy mùa xuân, tuổi trẻ đẹp. Nhưng ngay từ trong hiện tại tươi non đã là một tương lai héo úa, ngay từ mùa xuân tươi đẹp đã thấy một mùa đông héo úa; ngay từ tuổi trẻ đã thấy sự già cỗi. Mà cuộc đời này thì lại như một thiên đường trên mặt đất:

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa…”

Nếu như cùng thời, bất lực trước thực tại, nhiều người đã rũ bỏ hiện tại để chạy trốn thì Xuân Diệu hoàn toàn ngược lại. Thế Lữ giàu mình lên chốn bồng lai tiên cảnh, làm bạn với chị Hằng, với chú Cuội; Chế Lan Viên náu mình trong sự cô đơn, khát khao cô đơn: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh”; Vũ Hoàng Chương say để quên hết sự đời thì Xuân Diệu lại “đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới”. Với ông, thế giới này là một thiên đường trên mặt đất, ngạt ngào hương sắc, thu hút lòng người, như một mâm tiệc đang lên hương, hấp dẫn như một người tình vậy. Nhận thức và quan niệm điều ấy, cái “sợi dây đàn” trong tâm hồn yêu sống và nhạy cảm ấy không cho phép mình sống bình thản mà đưa ra một quan niệm nhân sinh đầy mới mẻ: Sống là tận hưởng đã đầy những hương sắc của cuộc sống, của thiên đường trên mặt đất này sống là tận hưởng một cách trọn vẹn và gấp gáp những giá trị của cuộc sống, của tình yêu và tuổi trẻ bởi:

“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”

Và “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ /Em, em ơi, tình non đã già rồi” mà “thời gian không đứng đợi”. sống để không chỉ tận hưởng một cách đã đầy, mà còn là tận hưởng một cách sống trọn vẹn và có ý nghĩa với cuộc đời.

Cắt nghĩa quan niệm nhân sinh này của Xuân Diệu có thể bắt nguồn từ khát khao của tác giả:

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

Những khát khao ấy là lành mạnh, những ước muốn níu giữ thời gian, níu giữ tuổi trẻ ấy thật cao đẹp nhưng không tưởng. Làm sao có thể làm thay cánh tay của tạo hoá sắp đặt? Vậy thì chỉ còn một cách: “Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm”

Câu thơ vang lên với nhịp điệu gấp gáp con người như giục giã con người cùng chạy đua với thời gian. Ngày ngả sang chiều hôm cũng như con người sẽ dần bước sang tới đốc bên kia cuộc đời của mình, khi mà tuổi già đang ập đến. Ấy là cái mà sinh thời Xuân Diệu rất sợ. Ông giục giã lòng mình phải gấp gáp hơn để tận hưởng cuộc đời khi nó chưa bước sang cảnh “bóng xế” cũng là một điều dễ hiểu. Cách sống, lối sống đó thật lành mạnh:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và nón nước, và cây và cỏ rạng

Cho chếnh choáng mùi thơm

Cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi”

Một loạt các từ “ta muốn” được điệp đi, điệp lại nhiều lần, liên tục, có tần số cao làm cho câu thơ như được dồn lên đến cao trào, và những ham muốn, những ước vọng lúc này đã oà ra hoàn toàn. Với quỹ thời gian ít ỏi của mình, nhà thơ muốn sống một cách trọn vẹn đã đầy, ôm trùm để tận hưởng tất cả “sự sống mới bắt đầu mơn mởn”, “mây đưa”, “gió lượn”… tất cả những gì đang tồn tại trên thiên đường trần thế này. Và cách sống ây thật mãnh liệt. Nhà thơ muốn “riết… say… thâu” để “chếnh choáng”, để “đã đầy”, để “no nê”, để được tận hưởng say sưa và trọn vẹn những gì là tươi đẹp nhất của cuộc sống này.

Mùa xuân, tuổi trẻ giống như một người con gái đẹp, kiều diễm mà nhà thơ sẽ luôn khát khao hướng tới và tận hưởng. Niềm khát khao ấy được bật lên thành tiếng: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. Thật là một quan điểm nhân sinh mới mẻ, lành mạnh và trong sáng biết bao! Với quan niệm nhân sinh tích cực của mình, Xuân Diệu đã đem đến cho người đọc một quan niệm mới mẻ về cuộc sống và cách sống: Cuộc sống này chính là thiên đường trên mặt đất và trong sự chảy trôi của thời gian con người phải sống sao cho gấp gáp, “vội vàng” với đúng nghĩa của nó, sống vội vàng để từng phút giây trong cuộc đời mình không trôi qua vô nghĩa, để tận hưởng hết cái phần ngon lành của tuổi trẻ, của mùa xuân, của đời người. Cho đến ngày hôm nay, quan điểm này vẫn có một ý nghĩa tích cực trong việc giáo dục con người, đặc biệt là tầng lớp thanh niên: hãy sống sao cho có ý nghĩa với cuộc đời, với chính mình hãy sống sao cho sau này khỏi phải nuối tiếc vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí bởi thời gian một đi không trở lại và “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”.

“Mỗi sáng tác văn học là một đề nghị về cách sống” và như thế có nghĩa là hôm nay và mãi mãi về sau quan điểm nhân sinh mới mẻ, lối sống tích cực để cuộc đời mình có ý nghĩa của Xuân Diệu sẽ mãi có giá trị lớn lao trong lòng người đọc.

3.2. Bài văn mẫu số 2

Xuân Diệu là một nghệ sĩ tài năng đầy sáng tạo, có vai trò quan trọng trong quá trình hiện đại hóa thơ ca. Thơ ông là tiếng lòng của một con người luôn khao khát giao cảm với đời, say mê cái đẹp. Ông là nhà thơ của mùa xuân, tình yêu và tuổi trẻ. Một trong những bài thơ nổi tiếng được nhiều độc giả biết đến là “Vội vàng” thể hiện cái tôi cá nhân luôn khao khát tận hưởng cuộc sống, yêu đời mãnh liệt ẩn đằng sau tình yêu ấy là quan niệm triết lí nhân sinh sâu sắc về thời gian, tuổi trẻ, ccon người và vẻ đẹp cuộc sống được Xuân Diệu truyền tải từ bao đời nay vẫn còn nguyên giá trị.

Triết lí nhân sinh chính là những quan niệm có ý nghĩa đối với cuộc đời được mọi người đón nhận và tiếp thu một cách tích cực. Triết lí nhân sinh trong thơ ca được tác giả gửi gắm qua các hình ảnh thơ giàu giá trị, giàu cảm xúc nó không tự nhiên hiện lên mà ẩn ngầm sau lớp ngôn từ để người đọc tự phát hiện và tự chiêm nghiệm, khám phá.

Thứ nhất triết lí nhân sinh về thời gian. Nếu thơ xưa quan niệm thời gian là tuần hoàn, xoay vòng thì với Xuân Diệu đi ngược lại điều đó, ông cho rằng thời gian tuyến tính, một đi không trở về:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”.

Xuân ở đây là chỉ mùa xuân của thiên nhiên đất trời và mùa xuân của đời người là tuổi trẻ. Mùa xuân của vạn vật năm lần bảy lượt đến rồi lại đi còn cuộc đời con người chỉ có một lần tồn tại, chẳng bao giờ thắm lại lần hai. Bởi “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Tác giả sử dụng nghệ thuật đối lập lấy thời gian vô hạn của vũ trụ đối với thời gian hữu hạn của đời người. Với cặp từ đối: tới-qua, non-già của hai câu thơ cho thấy tác giả đang tô đậm sự trôi chảy mất mát của thời gian. Nhà thơ cảm nhận thấy điều ấy ngay cả khi nó vừa mới bắt đầu “Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt”, xuân đến cũng là xuân đang qua, xuân còn non rồi cũng sẽ già, sự vật qua đi ngay cả khi nó đang hiện hữu trong cuộc đời và không có gì là tồn tại mãi mãi. Qua đó cho thấy thái độ trân trọng từng khoảnh khắc sự sống và không lãnh phí thời gian của tác giả. Đó là phát hiện mới mẻ, là quan niệm nhân sinh sâu sắc mà thi nhân muốn gửi gắm.

Bức tranh mùa xuân hiện lên thông qua cảm nhận chủ quan của người thi sĩ có đầy đủ hương, sắc, và thanh âm, đó là cảnh ong bướm vờn nhau “tuần tháng mật”, cảnh hoa thắm tươi điểm tô “đồng nội xanh rì”, cảnh lá, cành mơn mởn phất phơ lả lướt, mềm mại, cùng với đó là thanh âm ngọt ngào của yến anh với “khúc tình si”. Và quan trọng nhất mùa xuân không thể thiếu đi ánh nắng nhàn nhạt, ấm áp phủ lên trên tất thảy, đó là thứ ánh sáng lung linh, rớt trên rèm mi của người con gái, trong trẻo và nhẹ nhàng, đó là thứ ánh sáng tiếp thêm nhiệt huyết cho tâm hồn người thi sĩ, để nhà thơ thấy càng yêu thêm mùa xuân, yêu thêm cuộc đời. Đối với Xuân Diệu, mỗi một ngày là một niềm vui mới, chỉ cần được sống, được quyện mình với mùa xuân là đủ, chẳng khác nào có “thần Vui hằng gõ cửa” trái tim, thức tỉnh người thi sĩ mau ra tận hưởng cảnh sắc mùa xuân tuyệt đẹp. Có thế mới thấy rằng, quan niệm về cái đẹp của Xuân Diệu đến từ những thứ rất đỗi thân thuộc xung quanh mỗi chúng ta, chẳng cần phải bắt chước cổ nhân mơ ước đến chốn niết bàn cực lạc, vui vầy thú thanh tao, cao nhã, thoát khỏi chốn trần gian đầy ải mới là hạnh phúc. Mà đối với nhà thơ hạnh phúc thực sự phải tới từ chính cuộc sống thực tại, mà ở đó con người phải biết trân trọng, tìm kiếm và cảm nhận vẻ đẹp tiềm tàng trong mỗi một sự vật, sự việc xung quanh chúng ta. Bởi suy cho cùng ta mơ về chốn thần tiên quyến lữ, nhưng có bao giờ đạt mộng ước, cái còn lại chỉ là sự thất vọng, ảo não ê chề, vậy nên hạnh phúc vẫn là nên được xây dựng từ chính cuộc sống thực tại.

Nhưng đối với Xuân Diệu mùa xuân không chỉ đơn giản có thế, mùa xuân mà thiếu đi chút hương vị của tình yêu thì bức tranh cuộc sống trong thơ ông đã không còn đúng nghĩa. Đó chính là nét đặc sắc và cũng là triết lý nhân sinh khác của riêng Xuân Diệu, mùa xuân và tình yêu là hai khái niệm song hành. Ta nhận thấy rằng, dẫu có vẻ như tác giả chỉ đang đơn thuần tả cảnh mùa xuân bằng một giọng thơ hào hứng, sôi nổi, bằng sự tinh tế của giác quan, nhưng ẩn sâu trong đó chính là vẻ đẹp của tình yêu. Ong bướm say đắm bên nhau, ngọt ngào như mật, tựa đôi tình lữ chìm trong khoảnh khắc tân hôn, hoa với cỏ nơi đồng nội cũng có thứ hạnh phúc êm đềm, lá với cành có thứ tình yêu phong tình, lãng mạn, yến với anh nên thơ với “khúc tình si” ngọt ngào, hạnh phúc, còn riêng người thi sĩ dành cho mình mối tương tư với người thiếu nữ dưới nắng xuân, tươi trẻ, dạt dào sức sống. Có thể thấy, cảnh vật mùa xuân chan chứa tình yêu và hồn người thi sĩ lại càng chẳng bao giờ thiếu vắng tình yêu, ngoài cảm xúc lứa đôi thì nổi bật nhất vẫn là tình yêu với thiên nhiên với cuộc sống một cách tha thiết, nồng nàn. Thậm chí có đôi phần mãnh liệt nên mới có liên tưởng thú vị “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”, ngoài sự chuyển đổi cảm xúc từ giác quan, ta còn nhận thấy rằng Xuân Diệu đang so sánh mùa xuân với tình yêu, đang so sánh thiên nhiên với con người, mà đúng ra đó không phải là so sánh mà là sự kết hợp, tương quan chặt chẽ, là quan niệm của Xuân Diệu về mùa xuân, tình yêu và cuộc sống.

Nếu mười câu thơ đầu chính là đại diện cho vẻ ngoài của của một hồn thơ sôi nổi, đắm say và yêu đời tha thiết, thì phần thơ tiếp theo lại chính là những gì sâu sắc nhất trong tâm hồn Xuân Diệu. Mà ở đó ta thấy được những triết lý nhân sinh, những dẫn luận đầy tinh tế về mùa xuân, cuộc đời và quy luật của tạo hóa. Xuân Diệu chuyển từ cảm xúc bề nổi sang cảm xúc suy tư cũng tựa như một bản nhạc có khúc cao trào nhất, rồi dần chậm rãi đủ để thấm sâu vào hồn người, và trong Vội vàng cái khoảnh khắc giao thoa ấy nằm gọn ở hai câu thơ.

“Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa

Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”

Mạch thơ vốn đang vồn vã, yêu đời bỗng khựng lại, có thể nói dường như cả đoạn thơ sau là dùng để diễn giải cho một câu “Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”, có gì mà nhà thơ phải vội vàng đến thế, có gì mà khiến một kẻ đang sung sướng ngất ngây phải cắt đôi cái phần sung sướng ấy để “vội vàng một nửa”? Đó là bởi Xuân Diệu đã ngộ ra quy luật tàn nhẫn của tạo hóa.

“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”

Thiên nhiên, cụ thể là mùa xuân luôn có quy luật của mình đó là quy luật của thời gian, một năm 3 tháng mùa xuân, mỗi năm xuân đi rồi xuân đến, thế nhưng mùa xuân của con người nào có được như vậy. Y Vân viết rằng: “Anh ơi có bao nhiêu? 60 năm cuộc đời, 20 năm đầu, sung sướng không bao lâu, 20 năm sau, sầu vương cao vời vợi, 20 năm cuối là bao?”, tính ra con người đâu có được bao nhiêu mùa xuân, tất cả thoáng qua trong chớp mắt, một kiếp người cuối cùng cũng trở thành cát bụi, không tái sinh, không tuần hoàn. Đó đã là quy luật không thể thay đổi của tạo hóa, không một ai có thể chống lại bước đi lạnh lùng, tuyến tính của thời gian, dù rằng nó quá tàn nhẫn và xót xa. Thế nên với Xuân Diệu cuộc đời ngắn ngủi chưa đầy trăm năm ấy chẳng thể nào khiến ông mãn nguyện, ông luôn có một nỗi ám ảnh sâu sắc với thời gian và luôn luôn luyến tiếc vô cùng cái khung cảnh nhân gian, luyến tiếc cuộc đời, đặc biệt là luyến tiếc mùa xuân theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Vậy còn lý do gì mà Xuân Diệu không vội vàng, không khao khát, không ích kỷ nắm giữ, tận hưởng cuộc đời khi còn có thể? Từ quy luật của thời gian của tạo hóa Xuân Diệu đã mở ra một triết lý nhân sinh mới mẻ cho riêng mình, điều ấy thể hiện rất rõ ràng trong những câu thơ cuối.

“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

– Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Quay lại với nhịp thơ dồn dập, vội vàng, Xuân Diệu ra sức thúc giục “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”, đi để mà thưởng thức hết những gì tuyệt vời của cuộc sống trước khi mùa xuân tàn, trước khi cuộc đời tàn. Có thể thấy rằng đến đây sau khi đã nhận thức một cách rõ ràng quy luật tạo hóa thì cái khao khát tận hưởng cuộc sống, tình yêu cuộc sống của nhà thơ lại càng trở nên mãnh liệt, say đắm và nồng nàn, thậm chí là hoang dại với câu kết “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. Đó chính là cảm xúc thực của thi nhân, trước những thứ vô hình mà ta một lòng khát khao thì cái sự chiếm hữu lại càng tăng lên gấp bội, có lẽ rằng Xuân Diệu đang muốn thể hiện chủ quyền với mùa xuân hoặc đôi khi ông muốn nuốt “xuân hồng” vào bụng để vĩnh viễn được ở bên nó, tận hưởng cho thỏa thích cũng là điều có thể lý giải. Tóm lại rằng, triết lý nhân sinh của Xuân Diệu chỉ nằm vỏn vẹn trong mấy chữ: Hãy tận hưởng bằng tất cả tâm hồn và thể xác khi còn có thể!

Xuân Diệu là một hồn thơ trẻ muôn đời, với sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào và bền bỉ ông đã đóng cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm có giá trị nhân văn sâu sắc. Đặc biệt trong Vội vàng người ta thấy được những triết lý nhân sinh mới mẻ về cái đẹp, về thời gian, và về cuộc đời thật đáng trân trọng, xuất phát từ một hồn thơ với tầm nhân sinh quan, giá trị quan, thế giới quan toàn diện và tinh tế vô cùng. Phải nói rằng yêu thơ Xuân Diệu, đọc thơ Xuân Diệu ta dường như thấy mình trẻ ra không biết bao nhiêu tuổi đời.

—–Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp—–



LamVanHay.Com

Share:FacebookTwitterLinkedin
Warning: Trying to access array offset on value of type bool in /var/home/edulodos/public_html/lamvanhay.com/wp-content/themes/lvtheme/lib/functions/social.php on line 119
PinterestEmail

Leave a Message

Registration isn't required.