[LVH] Phân tích tác phẩm Về luân lí xã hội ở nước ta

1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

2. Dàn bài chi tiết

a. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát về tác giả Phan Châu Trinh (những nét chính về tiểu sử, con người, các tác phẩm chính, đặc điểm sáng tác,…).

– Giới thiệu khái quát về bài “Về luân lí xã hội ở nước ta” (vị trí đoạn trích, những đặc sắc về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật,…).

b. Thân bài:

* Nêu vấn đề: Khẳng định nước ta chưa có ai biết đến luân lý

– Tác giả cho rằng “Xã hội luân lí thuật trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến”.

– Nêu lên vấn đề chưa có luân lí ở nước ta.

– Phủ nhận vấn đề xuyên tạc, ngộ nhận luân lí ở nước ta của một số người.

→ Cách vào vấn đề một cách trực tiếp và lời khẳng định vấn đề, tác giả Phan Châu Trinh không những đã khẳng định nước ta không có luân lí mà hơn thế nữa còn phủ nhận, bác bỏ những cách hiểu đơn giản, nông cạn, hời hợt, sai lệch về vấn đề luân lí xã hội ở nước ta.

* Thực trạng và nguyên nhân về luân lí ở nước ta trong sự đối sánh với châu Âu

– Ở châu Âu:

  • Không những đã có xã hội luân lí mà nó còn rất thịnh hành.
  • Nguyên nhân: Có tinh thần đoàn kết, có tinh thần dân chủ, có trình độ văn hóa và biết nhìn xa trông rộng.

– Ở nước ta: Xã hội luân lí thực sự chưa có mấy ai biết đến.

– Con người nước ta “không biết đến đoàn thể, không trọng công ích”, ý thức dân chủ kém.

– “Ham quyền tước, ham bả vinh hoa” của học trò, của vua quan trong các triều đại phong kiến.

– Chế độ vua quan chuyên chế bảo thủ, lạc hậu kéo dài.

→ Tác giả đã chỉ ra một cách rõ ràng thực trạng của luân lí xã hội ở nước ta và nguyên nhân của thực trạng đó với một thái độ đau xót, phẫn uất cho tình cảnh của người dân.

* Giải pháp, chủ trương truyền bá tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho người Việt

– Dân ta cần phải có đoàn thể.

– Phải “truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam”.

c. Kết bài:

– Khái quát giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của bài “Về luân lí xã hội ở nước ta” và nêu cảm nghĩ của bản thân.

3. Bài văn mẫu

Đề bài: Bằng một bài văn ngắn em hãy phân tích tác phẩm Về luân lí xã hội ở nước ta.

Gợi ý làm bài:

3.1. Bài văn mẫu số 1

Phan Châu Trinh là một nhà cách mạng, một nhà yêu nước sớm giác ngộ cách mạng và có tư tưởng cách tân táo bạo trong lịch sử dân tộc. Không chỉ là nhà cách mạng, ông còn là nhà văn có nhiều sáng tác bằng cả chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ với những áng văn chính luận đanh thép, sâu sắc và những sáng tác thơ mang đậm tinh thần dân chủ và tinh thần yêu nước. Và có thể nói, đoạn trích “Về luân lí xã hội ở nước ta” trích từ phần ba của bài “Đạo đức và luân lí Đông Tây” là một trong số những sáng tác đặc sắc, biểu biểu của ông.

Trước hết, trong phần mở đầu bài “Về luân lí xã hội ở nước ta”, tác giả Phan Châu Trinh đã nêu lên một cách rõ ràng vấn đề bàn luận, đó chính là việc ở nước ta chưa có ai biết đến xã hội luân lí thật. Tác giả đã nêu lên vấn đề cần bàn luận ngay từ câu văn mở đầu đoạn trích “Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến”. Như vậy, tác giả đã nêu lên một vấn đề, một thực trạng ở nước ta lúc này đó chính là chưa có ai biết đến luân lí nhưng đồng thời, trong phần còn lại của đoạn văn mở đầu, tác giả còn phủ nhận vấn đề xuyên tạc, ngộ nhận luân lí ở nước ta của một số người. Tác giả Phan Châu Trinh đã chỉ ra rằng “một tiếng bạn bè không thể thay cho xã hội luân lí được” hay tác giả nêu lên hiện tượng những người làm quan thường nhắc tới từ “thiên hạ” vốn xuất phát từ một câu trong sách Nho giáo “Sửa nhà trị nước rồi mới yên thiên hạ” nhưng lại chẳng mấy ai hiểu rõ, hiểu đúng nghĩa của từ đó. Như vậy, với cách vào vấn đề một cách trực tiếp và lời khẳng định vấn đề, tác giả Phan Châu Trinh không những đã khẳng định nước ta không có luân lí mà hơn thế nữa còn phủ nhận, bác bỏ những cách hiểu đơn giản, nông cạn, hời hợt, sai lệch về vấn đề luân lí xã hội ở nước ta.

Phần đầu của văn bản, Phan Châu Trinh chỉ rõ thực trạng đáng buồn của xã Việt Nam đầu thế kỉ XX là dân trí thấp. Điều này hoàn toàn đúng bởi vì chủ trương của người Pháp khi sang Đông Dương là thực hiện chính sách ngu dân dễ bề cai trị. Tuy nhiên, điều đáng bàn ở đây là cách viết của Phan Chu Trinh không chỉ đúng mà còn hay và giàu sức thuyết phục. Bắt đầu từ chỗ dân trí thấp nên một số hệ lụy kéo theo. Như tác giả, đó là: “Xã hội luân lí trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều”. Có nghĩa là tinh thần xã hội có ý thức cộng đồng ở nước ta “dốt nát hơn nhiều”. Hay đúng hơn là hầu như không được biết đến. Không sử dụng yếu tố lập luận và cách lập luận sắc sảo qua việc dùng biện pháp so sánh, lựa chọn từ ngữ… Tác giả còn bày tỏ thái độ xót xa, tâm trạng bức xúc, là thái độ của một con người giàu cái tâm, cái tình với đất nước. Thái độ Phan Chu Trinh thật đáng khâm phục dù ông đang hướng về các nước phương Tây để chủ trương “duy tâm”. Nhưng ông không phủ nhận đạo Nho, hơn thế, ta vẫn thấy ông nói về nó với thái độ trân trọng. Điều này một lần nữa thể hiện rõ quan điểm của ông. Đổi mới nhận thức của người dân theo hướng hiện đại để theo kịp xu thế nhưng không đồng nghĩa với việc xa rời lối sống và học phương Đông. Phải chăng, ông là người rất thức thời ở điếm này khi sau ông gần một kỉ, trong xu thế hội nhập, chúng ta cũng luôn chủ trương “hòa nhập mà không hoà tan”.

Sau khi chỉ ra thực trạng tăm tối về đời sống tinh thần, ý thức xã hội và cộng đồng ở nước ta, tác giả đã lấy chuẩn mực là các nước phương Tây để so sánh. Tác giả chỉ lấy một ví dụ nêu một biểu hiện đã trở thành nếp sống: “Bên Pháp, mỗi khi có người quyền thế hoặc chính phủ lấy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng của một người hay một hội nào, thì người ta kêu nài hoặc chống cự, hoặc thị oai, vận dụng kỳ cho đến được công trình mới nghe”. Hiện tượng này rõ là xa lạ với người Việt Nam thời đó. Xa lạ bởi theo tác giả họ có “đoàn thể”, có “công đức” – nghĩa là họ có cộng đồng, có ý thức xã hội, hay đúng hơn là dân trí đã phát triển ở mức cao. Rõ ràng đây là điểm yếu, là điều xa lạ với con người Việt Nam như trên đã nói.

Vậy thực trạng của cái gọi là ý thức xã hội, ý thức cộng đồng thiếu ở nước ta là gì? Theo như tác giả chỉ ra, ta nhận thấy một thực tế: “ai chết mặc ai, sống khép kín, bobo một mình”. Tuy nhiên, điều đáng nói là tác giả không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra biểu hiện, ông còn tìm trong căn nguyên của nó. Ngược lại xa xưa, ta thấy rõ cha ông ta không dạy như thế. Câu tục ngữ: “Không ai bẻ đũa cả nắm” mà tác giả diễn tả chứng tỏ điều đó. Nghĩa là, “dân tộc Việt Nam này hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, biết công ích, biết góp gió thành bão, dụm cây làm rừng…”. Cuối cùng, nguyên nhân chính là do kẻ cầm cân nảy mực mấy trăm năm trở lại đây. Bọn họ vì mắc căn bệnh mẫn “ham quyền tước, ham bả vinh hoa” chi biết có vua, không biết có dân, chỉ lo nịnh vua không tròn việc chăm dân. Dạy đã mấy ai thậm chí còn “phá tan tành đoàn thể của quốc gia”.

Đọc văn bản, ta còn nhận ra rất rõ thái độ của Phan Châu Trinh. Ông càng ghét, khinh bỉ bọn này đến tột độ. Bắt đầu từ cách gơ là “đám” “kẻ”, “bọn” tất cả chúng đều “lúc nhúc” như dòi bọ. Rồi đến giọng văn mỉa mai, ghê tởm khi nói về bọn ham bả vinh hoa: “Dâu trôi nổi, dẫu cực khổ thế nào mặc lòng, miễn là có kẻ mang đai, đội mũ, có kẻ áo rộng, khăn đen lúc nhúc lay dưới, trăm nghìn năm như thế cũng xong? Giọng văn xót xa khi nói vẽ người dân: “Dân khôn mà chi! Dân lợi mà chi! Dân hại mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu, quan lại càng phi quý!” Nghĩa là ông đã chỉ ra, bày tỏ thái độ trước mối liên hệ giữa cái phú quý của quan lại và cái khốn khổ của dân. Tuy nhiên, cái khổ của Phan Châu Trinh chi ra không chỉ là chuyện cơm áo. Khốn khổ nhất với họ là họ đang bị “ngu đi mà không hề biết”, họ không còn đủ khôn để phân biệt. Những kẻ tham phú quí, ham bả vinh hoa kia, vì quyền lợi của họ, họ đã dẫm đạp lên người dân, từ thành thị đến thôn quê vì xét cho cùng “dân càng nô lệ… bọn quan lại càng phú quý”. Nguy hại hơn, cái thói hám quyền tước, lợi lộc như một thứ đại dịch, lan tràn, cá người học chữ Nho đến chữ Tây, từ thôn quê đến chốn thị thành, thử hỏi đại dịch ấy bao giờ chấm dứt? Thử hỏi, ai sẽ là người đem thuốc trị cho con bệnh hiểm ấy? Đứng trước thực tại đó, ông đã phải thốt lên: “Ôi! Một dân tộc như thế thì tư tưởng cách mạng nảy nở trong óc chúng làm sao được! Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có cũng là vì thế!”. Kết thúc bài viết là một lập luận đồng thời cùng là một lời kêu gọi. Các vấn đề được liên kết theo kiểu móc xích. Để độc lập thì phải có đoàn thể và để ó đoàn thế thì phải “truyền bá Xã hội chủ nghĩa”, phải giác ngộ đồng bào, khơi gợi đoàn kết. Chi có như thế dân tộc Việt Nam mới có đủ sức mạnh để đánh đuổi kẻ xâm lăng, mới thoát kiếp nô lệ.

3.2. Bài văn mẫu số 2

Cho đến nay, càng ngày người ta càng nhận ra tầm vóc tư tưởng lớn lao của Phan Châu Trinh – người đầu tiên có tư tưởng dân chủ ở Việt Nam. Phan Châu Trinh không chủ trương con đường bạo lực để giành độc lập cho đất nước. Sớm cảm nhận được xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra trên thế giới, ông kiên trì thực hiện công cuộc “khai dân trí”, “chấn dân khí”, “hậu dân sinh”, coi đó như đột phá khẩu để giải quyết mọi vấn đề nan giải của xã hội Việt Nam thuở ấy. Trước tác của ông rất nhiều, tất cả đều hướng tới chỗ đánh thức quốc dân thoát khỏi cơn mê, khơi dậy ý thức về dân quyền, dân chủ, chỉ ra chỗ thua kém cốt tử của dân mình, nước mình trong cuộc tranh cường cùng thiên hạ,…

Sau 15 năm sống lưu vong trên đất Pháp, vẫn kiên trì đường lối cách mạng nói trên, Phan Châu Trinh xin về nước và hối hả hoạt động để “thức tỉnh dân khí ba kỳ đồng tâm hiệp lực đạp đổ cường quyền áp chế”. Ông đã kịp có những buổi diễn thuyết quan trọng tại Sài Gòn trước lúc mất, mà một trong số đó là buổi diễn thuyết về Đạo đức và luân lí Đông Tây vào đêm 19-11-1925 tại nhà Hội Thanh niên.

Bài diễn thuyết Đạo đức và luân lí Đông Tây khá dài, có nội dung phong phú, đề cao tác dụng của đạo đức, luân lý, khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong việc để mất đạo đức, luân lý truyền thống.

Phan Châu Trinh phân biệt đạo đức với luân lý, cho đạo đức là cái bất biến còn luân lí là cái có thể thay đổi theo thời, bởi vậy, muốn đưa Việt Nam thoát khỏi thảm trạng hèn yếu, mất độc lập, dứt khoát phải cải tổ luân lý đổ nát bấy nay, xây dựng luân lí mới trên nền tảng truyền thống vinh quang (cũng là đạo đức chân chính) từng có. Để thuyết phục người nghe rằng việc du nhập luân lí mới của phương Tây hoàn toàn không phải là việc làm khiên cưỡng, Phan Châu Trinh chỉ ra: nền dân chủ tư sản cùng sự tiến bộ, giàu mạnh của các nước châu Âu hiện thời là thành quả của việc xây dựng nền đạo đức, luân lý có phần tương tự với đạo đức, luân lý Khổng – Mạnh ở Trung Quốc và Việt Nam vào các thời thịnh trị. Từ điểm này, ông chủ trương: “Đạo Khổng – Mạnh đã mất rồi, nay ta muốn nước ta có một nền đạo đức luân lý vững vàng, thì có gì hay bằng ta hết sức đem cái chủ nghĩa dân chủ Âu châu về. Chủ nghĩa dân chủ chính là một vị thuốc rất thần hiệu để chữa bệnh chuyên chế của nước ta vậy. Đem văn minh Âu châu về tức là đem đạo Khổng – Mạnh về”. Nếu không tính đến sự giản đơn trong việc quy đồng các nền văn hoá, các triết thuyết khác nhau, có thể nói, Phan Châu Trinh, với sự nhạy cảm riêng của một người có kinh nghiệm diễn thuyết, đã biết cách làm “an lòng” những ai thường sống trong niềm tự phụ về nền ăn minh tinh thần của châu Á, trong đó có Việt Nam.

Ông đã rất tinh tế nhấn mạnh sự phản động, thối nát của xã hội phong kiến chính là nguyên nhân gây ra tình trạng này. Không dừng lại ở đó không đâu, tác giả còn nêu ra tình trạng vua quan ra sức bóc lột, vơ vét của nhân dân, không hề quan tâm đến lợi ích của dân chúng: “Dẫu trôi nổi cùng cực thế nào, miễn là có kẻ mang đai đội mũ ngất ngưởng ngồi trên, có kẻ áo rộng khăn đen lúc nhúc lạy dưới, trăm nghìn năm như thế cũng xong”, ông còn đã như chỉ rõ bọn quan tham ấy là ai? “Ngày xưa thì bọn ấy là bọn Nho học đã đỗ được cái bằng cử nhân, tiến sĩ. Ngày nay, thế giới đổi khác thì bọn ấy là bọn Tây học đã được cái chức ký lục thông ngôn, có khi bồi bếp dựa vào thân thế của chủ cũng ra làm quan nữa. Còn những bọn quan lại đã nói ở trên này chỉ còn một tiếng đúng hơn là lũ ăn cướp có giấy phép vậy”. Có thể nói bên cạnh sự phê phán bọn quan tham, tác giả cũng chỉ ra sự hèn kém của dân mình, “dầu tham, dầu nhũng dầu rút tỉa của dân thế nào cũng không ai bình phẩm; dầu lấy lúa của dân mua vườn sắm ruộng, xây nhà làm cửa cũng không ai chê bai”. Cuối cùng là thái độ gió chiều nào theo chiều ấy, thấy quyền thế thì chạy theo, quỵ lụy, dựa dẫm: “Những kẻ ở vườn thấy quan sang, quan quyền cũng bén mùi làm quan. Nào lo cho quan, nào lót cho lại được, nào chạy ngược, chạy xuôi dầu cố ruộng dầu bán trâu cũng vui lòng chỉ cần được mua lấy một cái chức xã trưởng hoặc cai tổng… Thương ôi! Làng có một trăm dân mà người này đối với kẻ kia đều ngó theo sức mạnh, không có chút gì gọi là luân lý đạo đức cả”.

Nhà văn như đưa ra câu hỏi vậy như nếu muốn có luân lí xã hội thì cần phải làm gì? Theo tác giả đã bày tỏ thì cần phải gây dựng đoàn thể để giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Đồng thời ta phải xóa bỏ chế độ phong kiến đã thối nát để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa theo đúng nghĩa của nó, nâng cao dân trí và ý thức dân chủ của người dân, hướng dân chúng tới mục tiêu giành độc lập tự do cho dân tộc, như ông đã kết luận: “Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do, độc lập thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã. Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này”.

Với phong cách chính luận độc đáo, văn phong mạch lạc rõ nghĩa, lúc từ tốn, mềm mỏng, lúc lại kiên quyết đanh thép đầy sức thuyết phục, đồng thời với tầm nhìn sâu rộng và suy nghĩ sắc sảo tiến bộ của mình, Phan Châu Trinh đã cho chúng ta thấy thực trạng “Về luân lí xã hội ở nước ta” hiện nay như thế nào, đồng thời như một lời nhắc nhở mọi người hãy nêu cao tinh thần đoàn kết và ý thức trách nhiệm với quốc gia, dân tộc mình.

—–Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp—–



LamVanHay.Com

Share:FacebookTwitterLinkedin
Warning: Trying to access array offset on value of type bool in /var/home/edulodos/public_html/lamvanhay.com/wp-content/themes/lvtheme/lib/functions/social.php on line 119
PinterestEmail

Leave a Message

Registration isn't required.